10:27 ICT Thứ sáu, 19/10/2018

Trang nhất » Tin Tức » Góc Học Tập » Luật hành chính - Kỹ năng giải quyết các vụ án hành chính

Giải quyết hồ sơ tình huống 08 - Ông Nhân + Công - Kỹ năng hành chính - Lớp Luật sư

Thứ sáu - 15/01/2016 16:11
Ảnh không minh họa

Ảnh không minh họa

Ngày 21/06/2002, ông Nguyễn Văn Công nhận chuyển nhượng của Nguyễn Văn 2.000 m2 đất tại thửa 260 tờ bản đồ số 14 xã Phúc Vinh, huyện An Nhơn tỉnh Đ.N, có sự xác nhận của trưởng ban ấp. Sau khi nhận sang nhượng, ông Nguyễn Văn Công đã rào lưới kemx B40 xung quanh đất, đến tháng 9/2012, ông đã cất nhà vách lá và làm các công trình phụ trên đất. Toàn bộ diện tích đất 6.146 m2 , trong đó có 2.000 m2 đất của ông Công hiện đang do ông Nguyễn Văn Nhân đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa làm sổ tách thửa cho ông Nguyễn Văn Công và hai bên chưa làm thủ tục sang tên theo luật định.
I.                   TÓM TẮT NỘI DUNG, DIỄN TIẾN VỤ ÁN
            Ngày 21/06/2002, ông Nguyễn Văn Công nhận chuyển nhượng của Nguyễn Văn 2.000 m2  đất tại thửa 260 tờ bản đồ số 14 xã Phúc Vinh, huyện An Nhơn tỉnh Đ.N, có sự xác nhận của trưởng ban ấp. Sau khi nhận sang nhượng, ông Nguyễn Văn Công đã rào lưới kemx B40 xung quanh đất, đến tháng 9/2012, ông đã cất nhà vách lá và làm các công trình phụ trên đất. Toàn bộ diện tích đất 6.146 m2 , trong đó có 2.000 m2  đất của ông Công hiện đang do ông Nguyễn Văn Nhân đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa làm sổ tách thửa cho ông Nguyễn Văn Công và hai bên chưa làm thủ tục sang tên theo luật định.
                        Trên thực tế, để xác định và đánh dấu diện tích đất quy hoạch làm khu công nghiệp trên thực địa, Trung tâm kỹ thuật địa chính – Nhà đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường huyện An Nhơn đã cắm 28 cột mốc, từ cột số 1 đến cột số 28 căn cứ theo diện tích đất cho thuê tại Quyết định 997/QĐ.CT.UBT, sau đó đã kiểm tra và cắm lại các mốc bị mất, bị sai lệch (theo Báo cáo số 22/BC.ĐC-NĐ ngày 06/03/2013). Tuy nhiên, vì ngay sau đó có nhiều hộ dân thắc mắc về việc cắm (cắm lại) mốc ranh giới nên ngày 23/04/2013, Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Đ.N tổ chức họp về việc kiểm tra việc cắm mốc ranh gới khu công nghiệp An Nhơn III, đồng thời các thành phần tham gia cùng ra thực địa tiến hành kiểm tra thực tế 28 cột mốc của khu công nghiệp An Nhơn III, kết quả kiểm tra cho thấy rất nhiều cột mốc không còn ranh giới thực địa hoặc không xác định đươc vị trí ranh giới thực địa chính xác, có những cột mốc nằm trong khu trồng lấn (cột số 3 đến số 6), 28 cột mốc trên bản đồ có sự nhầm lẫn, sửa số. Sau cuộc họp trên, ngày 01/07/2013 Ủy ban nhân dân huyện An Nhơn đã ra Thông báo số 62/TB-UBH về kết quả kiểm tra cắm mốc ranh giới khu công nghiệp An Nhơn III. Không đồng ý với nội dung thông báo trên, các hộ dân cùng tham gia kiểm tra việc cắm mốc ranh giới trên thực địa đã khiếu nại lên Chủ tịch UBND tỉnh Đ.N. Ngày 21/08/2013, Chủ tịch UBND tỉnh Đ.N đã có công văn trả lời khiếu nại số 3607/UBT.
            Ngày 28/08/2013, ông Nguyễn Văn Nhân nhận được Quyết định thu hồi đất số 199/QĐ-CT.UBH, thu hồi diện tích đất 6.146 m2, trong đó có 2.000 m2 đất của ông Nguyễn Văn Công do diện tích đất trên nằm trong khu vực đất quy hoạch khu công nghiệp An Nhơn III, xã Phúc Vinh, huyện An Nhơn, tỉnh Đ.N. Ngay sau đó ông Nhân đã báo cho ông Công biết về Quyết định trên. Không đồng ý với Quyết định thu hồi đất, ngày 29/08/2013 ông Nguyễn Văn Công đã làm Đơn khiếu nại vì cho rằng diện tích đất của ông không nằm trong mốc quy hoạch khu công nghiệp. Trả lời nội khiếu nại của ông Nguyễn Văn Công và các hộ khác, ngày 05/09/2013 Ủy ban nhân dân huyện An Nhơn có công văn số 460/UBH với nội dung: Ủy ban nhân dân huyện An Nhơn ra quyết định thu hồi đất là căn cứ theo Quyết định 997/QĐ.CT.UBT của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.N, đồng thời từ chối yêu cầu cung cấp tài liệu liên quan của các hộ dân. Nhận thấy công văn trả lời của khiếu nại không thỏa đáng, ngày 01/10/2013, ông Nguyễn Văn Công đã làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án Hành chính huyện An Nhơn, yêu cầu hủy một phần Quyết định 199/QĐ-CT.UBH và trả lại 2.000 m2 đất cho gia đình ông vì cho rằng diện tích đất trên nằm ngoài quy hoạch khu công nghiệp, kèm theo Đơn khởi kiện là văn bản đề số 10TT/UBX ngày 18/02/2007, tờ trình số 133/TT-UBX ngày 05/07/2013 và tờ trình số 16/TT-UBX ngày 16/02/2007 của Chủ tịch xã Phúc Vinh về thẩm tra hồ sơ đăng ký biến động đất đai.
            Sau khi thụ lý hồ sơ khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện An Nhơn đã tổ chức lấy lời khai của các người khởi kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan và người bị kiện. Ngày 04/03/2014, Tòa án nhân dân huyện An Nhơn có Biên bản xác minh, theo đó, toàn bộ 6146 m2 đất do ông Nguyễn Văn Nhân đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi theo Quyết định 199/QĐ-CT.UBH đều nằm trong mốc quy hoạch khu công nghiệp An Nhơn III tại xã Phúc Vinh căn cứ theo Quyết định số 997/QĐ.CT.UBT ngày 04/04/2012. Đồng thời xác nhận các cột mốc cắm quy hoạch trước đây là mốc cắm tổng thể của 6 khu công nghiệp của huyện An Nhơn tổng diện tích 2.700ha, sau khi có quyết định thu hồi đất cụ thể của từng khu công nghiệp thì mới tiến hành đo đạc lập sơ đồ bản vẽ đất thưc tế và cắm mốc chi tiết.
            Liên quan đến diện tích đất quy hoạch xây dựng khu công nghiệp An Nhơn III, xã Phúc Vinh, huyện An Nhơn, tỉnh Đ.N ngày 04/04/2012, UBND tỉnh Đ.N ban hành Quyết định số 997/QĐ.CT.UBT theo đó cho công ty Tân Thành thuê 3.677.848,0 m2. Tuy nhiên, khi đang trong gia đoạn giải quyết vụ án hành chính của ông Nguyễn Văn Công, ngày 18/12/2013, UBND tỉnh Đ. N ban hành Quyết định số 4839/QĐ.CT.UBT, quyết định điều chỉnh giảm diện tích cho công ty Tân Thành thuê để làm khu công nghiệp An Nhơn III xuống còn 3.368.655,8 m2, và quy định vị trí, ranh giới khu đất sau khi điều chỉnh được xác định theo Trích đo bản đồ địa chính  khu đất số 3454/BĐĐC tỷ lệ 1/5000 do Trung tâm kỹ thuật Địa hính – Nhà đất tỉnh Đ.N thực hiện ngày 14/11/2013, Sở Tài nguyên và Môi trường Đ.N xác nhận ngày 10/12/2013.
 
II.               ĐÁNH GIÁ HỒ SƠ VỤ ÁN
1.               Xác định tư cách những người tham gia tố tụng và đối tượng khiếu kiện
1.1.           Người khởi kiện:
            Khoản 6, điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2010 quy định: Người khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách cử tri”. Dựa trên căn cứ này thì người khởi kiện một quyết định hành chính không nhất thiết phải là người chịu sự điều chỉnh trực tiếp (được nêu tên cụ thể) từ quyết định hành chính bị khiếu kiện.
            Điều 5 Luật Tố tụng hành chính 2010 cũng quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. 
            Bên cạnh đó, người khởi kiện trong vụ án hành chính phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại điều 48 Luật Tố tụng hành chính 2010 như sau:
Điều 48. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính của đương sự
1. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính do pháp luật quy định. Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có năng lực pháp luật tố tụng hành chính như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính.
3. Trường hợp đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác.”
 
            Tháng 6/2002, ông Nguyễn Văn Công nhận chuyển nhượng 2.000 m2 đất tại thửa 260, tờ bản đồ số 14, xã Phúc Vinh, huyện An Nhơn, tỉnh Đ.N trong tổng số 6.146 m2 đất do ông Nguyễn Văn Nhân đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc chuyển nhượng này được lập thành văn bản, có chữ ký của hai bên và của người làm chứng là Trưởng ban ấp 2, xã Phúc Vinh, huyện An Nhơn. Các bên đều thừa nhận có việc chuyển nhượng này và trên thực tế, hiện nay ông Nguyễn Văn Công là đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng 2.000 m2  nêu trên từ thời điểm nhận chuyển nhượng mặc dù chưa thực hiện thủ tục tách thửa, sang tên trước bạ.
            Ngày 28/08/2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện An Nhơn đã ban hành Quyết định thu hồi đất số 199/QĐ-CT.UBH để thu hồi 6.146 m2 đất do ông Nguyễn Văn Nhân đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên vì toàn bộ diện tích 6.146 m2 nằm trong khu vực đất quy hoạch khu công nghiệp An Nhơn III. Quyết định trên của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai khi được ban hành đã tác động trực tiếp đến quyền chiếm hữu và sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Công, do đó ông Công có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trên thực tế, ông Nguyễn Văn Công đã nộp đơn khởi kiện tại tòa án nhân dân huyện An Nhơn ngày 01/10/2013.
            Bên cạnh đó, ông Nguyễn Văn Công đã trên 18 tuổi, không bị mất hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Toàn bộ hồ sơ vụ việc không thấy đề cập việc ông Nguyễn Văn Công bị mất hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự); có đầy đủ năng lực pháp luật tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính.
            Vậy, dựa vào các căn cứ pháp lý nêu trên, ông Nguyễn Văn Công có đủ tư cách chủ thể khởi kiện để khiếu kiện Quyết định thu hồi đất 199/QĐ-CT.UBH ngày 28/08/2013.
 
1.2.           Người bị kiện:
            Căn cứ vào khoản 1, điều 2 Nghị quyết 02/ 2011/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành Luật Tố hành chính quy định:
Điều 2. Xác định người bị kiện quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật TTHC
1.      Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật TTHC thì người bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện; do đó, để xác định đúng người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan, tổ chức thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ việc đó. Trường hợp có nhiều luật cùng quy định thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính về một lĩnh vực quản lý thì việc xác định thẩm quyền của người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào luật chuyên ngành.”
 Về thẩm quyền thu hồi đất, điều 44 Luật Đất đai 2003 quy định như  sau:
Điều 44. Thẩm quyền thu hồi đất
1.      Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2.       Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
3.      Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không được uỷ quyền.
            Theo căn cứ trên, Người bị kiện là Ủy Ban nhân dân huyện An Nhơn, tỉnh Đ.N, là cơ quan có thẩm quyền ban hành Quyết định thu hồi đất theo luật định.
            Tuy nhiên, theo Đơn khởi kiện của ông Công, ông Công đã khởi kiện ông Trần Văn Minh, chủ tịch UBND huyện An Nhơn, vì cho rằng ông ngày đã vi phạm pháp luật về đất đai khi ban hành quyết định 199/QĐ-CT.UBH. Như vậy, căn cứ theo phân tích nêu trên thì ông Công đã xác định sai người bị kiện.
 
1.3.           Người có quyền và nghĩa vụ liên quan
            Khoản 8, điều 3 Luật tố tụng hành chính quy định: “Người có quyền, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền, nghĩa vụ liên quan.”
            Quyết định số 199/QĐ-CT.UBH được ban hành trực tiếp cho ông Nguyễn Văn Nhân để thu hồi 6.146 m2 đất do ông đứng tên chủ sở hữu quyền sử dụng. Việc ông Nguyễn Văn Công khởi kiện tuyên hủy một phần Quyết định 199 liên quan đến 2.000 m2 đất trong tổng số diện tích 6.146 m2 đất trên đang thực tế chiếm hữu và sử dụng có khả năng tác động đến quyền, nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Nhân được quy định trong và phát sinh từ Quyết định 199. Vì nếu Quyết định trên được ban hành trái pháp luật thì có khả năng bị hủy toàn bộ và quyền, nghĩa vụ của ông Nhân trong được quy định trong và phát sịnh từ sẽ bị tác động. Do đó, việc giải quyết vụ án hành chính liên quan đến Quyết định 199 rõ ràng sẽ ảnh hưởng đế quyền và nghĩa vụ liên quan của ông Nhân đối với nghĩa vụ phải thực hiện theo nội dung Quyết định.
            Vậy, ông Nhân là người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
 
1.4.           Đối tượng khiếu kiện:
            Điều 28 Luật tố tụng hành chính 2010 quy định như sau:
“Điều 28. Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính,hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mậtnhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.”
            Để làm rõ về đối tượng khiếu kiện hành chính, khoản 1, Điều 1 của Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành Luật Tố tụng hành chính quy định như sau:
Điều 1. Quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính quy định tại Điều 28 của Luật TTHC
1.      Quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó), bao gồm:
a)     Quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính;”
            Thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, Quyết định 199/QĐ.CT-UBH đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện An Nhơn (sai thẩm quyền như đã đề cập tại mục 2.4.1) ban hành để thu hồi 6.146 m2 đất tại thửa 260, tờ bản đồ số 14, xã Phúc Vinh, huyện An Nhơn, tỉnh Đ.N.
            Vậy, đối tượng bị khiếu kiện là Quyết định hành chính trong quản lý nhà nước về đất đai, cụ thể là Quyết định thu hồi đất số 199/QĐ.CT-UBH ngày 28/08/2013.
 
2.               Điều kiện khởi kiện và thụ lý vụ án
2.1.     Quyền khởi kiện vụ án hành chính
            Khoản 2 điều 264 Luật Tố tụng hành chính 2010, quyền khiếu kiện đối với quyết định hành chính về đất đai được quy định như sau:
Điều 264. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai:
2. Điều 138 của Luật đất đai được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 138. Khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai
1.      Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.
2.      Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”
            Khoản 1 điều 1 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành Luật Tố tụng hành chính quy định:
Điều 1. Quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính quy định tại Điều 28 của Luật TTHC 
1. Quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó), bao gồm: 

a) Quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính;”

            Căn cứ các điều khoản như trên, ông Nguyễn Văn Công có quyền khiếu kiện Quyết định thu hồi đất số 99/QĐ-CT.UBH ngày 28/08/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện An Nhơn, tỉnh Đ.N ban hành để thu hồi 6.146 m2 đất tại thửa 260 tờ bản đồ số 14 xã Phúc Vinh, huyện An Nhơn tỉnh Đ.N, trong đó có 2.000 m2 ông đang trực tiếp chiếm hữu sử dụng.
 
2.2.      Thời hiệu khởi kiện
            Khoản 2 điều 104 Luật Tố tụng hành chính 2011 quy định thời kiện khởi kiện như sau: “01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;”.
            Khoản 1 điều 12 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP hướng dẫn cụ thể về thời hiệu khởi kiện như sau:
Điều 12. Thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 104 của Luật TTHC
1.      Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 104 của Luật TTHC thì thời hiệu khởi kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc là 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc; do đó, để xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện trong trường hợp nào là “kể từ ngày nhận được”, trường hợp nào là “kể từ ngày biết được” thì cần căn cứ vào đối tượng bị tác động trực tiếp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và phân biệt như sau:
a)     Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và họ là đối tượng được nhận quyết định thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày họ nhận được quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc (được cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc giao trực tiếp, được nhận qua nhân viên bưu điện, qua chính quyền địa phương hoặc những người khác theo quy định của pháp luật). Ví dụ: Ngày 08-7-2011 ông N nhận được Quyết định số19/QĐ-UBND ngày 10-02-2011 của Uỷ ban nhân dân quận B về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho ông với diện tích 150m2 thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện của ông N đối với Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 10-02-2011 của Uỷ ban nhân dân quận B là kể từ ngày ông N nhận được quyết định đó (ngày 08-7-2011);
b)     Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức không phải là đối tượng bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và họ không phải là đối tượng được nhận quyết định và thực tế là họ không nhận được quyết định đó thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ ngày họ biết được quyết định đó. Ví dụ: Trong trường hợp ví dụ nêu tại điểm a khoản 1 Điều này, sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông N đã tiến hành xây tường bao diện tích đất 150m2 đó. Ông Q là hàng xóm của ông N cho rằng ông N đã xây tường bao lên cả phần diện tích đất của ông Q. Ngày 28-7-2011, ông N đã đưa cho ông Q xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N và ông Q thấy rằng một phần diện tích đất mà ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phần diện tích đất của ông Q. Trong trường hợp này, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện của ông Q đối với Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 10-02-2011 của Uỷ ban nhân dân quận B là kể từ ngày ông Q biết được quyết định đó (ngày 28-7-2011).”
 
            Quyết định số 199/QĐ.CT-UBH không được ban hành trực tiếp cho ông Nguyễn Văn Công mà được gửi đến cho ông Nguyễn Văn Nhân, tuy nhiên, sau khi nhận được ông Nhân đã cho ông Công biết về Quyết định trên. Trong hồ sơ vụ việc không có cho thấy chính xác ngày ông Nguyễn Văn Công biết được việc có Quyết định số 199/QĐ.CT-UBH, chỉ nêu ông Nguyễn Văn Công biết sau khi ông Nguyễn Văn Nhân nhận quyết định, từ đó, một cách logic và hợp lý có thể suy luận rằng ngày ông Nguyễn Văn Công biết có Quyết định số 199/QĐ.CT-UBH sau ngày Quyết định trên được ban hành, ngày 28/08/2013. Ngày 01/10/2013, ông Nguyễn Văn Công đã có Đơn khởi kiện. Vậy ông Công đã thực hiện quyền khởi kiện trong thơi gian luật định.
 
2.3.      Thẩm quyền của tòa án
          Điều 29 Luật Tố tụng hành chính 2011 quy định:
“Điều 29. Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là 
Toàn án cấp huyện) giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:
1.      Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó;”
            Căn cứ theo điều khoản trên, tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm khiếu kiện hành chính của ông Nguyễn Văn Công trong trường hợp này là tòa án nhân dân huyện An Nhơn, tỉnh Đ.N.
            Khoản 1, điều 4 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP quy định:
Điều 4. Trường hợp cần thiết Toà án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp huyện quy định tại điểm g khoản 1 Điều 30 của Luật TTHC 
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện liên quan đến nhiều đối tượng, phức tạp. 

            Đối với những khiếu kiện về quyết định hành chính của UBND cấp huyện liên quan đến nhiều đối tượng và phức tạp thì tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết. Tuy nhiên, đối với Người khởi kiện, ban đầu vẫn phải nộp hồ sơ khởi kiện tại tòa án cấp huyện, còn tòa án nhân dân cấp tỉnh có lấy lên để giải quyết hay không còn tùy thuộc vào sự nhận định của tòa cấp tỉnh, không được khởi kiện vượt cấp lên cấp tỉnh.
            Do đó, đối với Quyết định thu hồi đất số 199/QĐ.CT- UBH do Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện An Nhơn ban hành, thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là tòa án nhân dân huyện An Nhơn.
            Ngày 01/10/2013, ông Nguyễn Văn Công đã khởi kiện đến Tòa án hành chính huyện An Nhơn với đối tượng khiếu kiện là Quyết định 199/QĐ-CT.UBH ngày 28/08/2013 của Ủy ban nhân dân huyện An Nhơn về việc thu hồi quyền sử dụng đất và Toán án đã thụ lý ngày 10/10/2013. Như vậy vụ án đã được khởi kiện đúng thẩm quyền theo lãnh thổ.
 
3.               Tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện
            Xét tính hợp pháp của Quyết định số 199/QĐ.CT- UBH ngày 28/08/2013 cần lưu ý nhưng điểm như sau:
3.1.           Thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất
            Điều 44 Luật Đất đai 2003 quy định:
Điều 44. Thẩm quyền thu hồi đất
1.      Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2.      Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
3.      Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không được uỷ quyền.”
            Điều 31 Nghị định 66/2009/NĐ-CP quy định:
Điều 31. Quyết định thu hồi đất, phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, giao đất, cho thuê đất
1.      Thẩm quyền quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất thực hiện theo quy định tại Điều 37 và Điều 44 của Luật Đất đai.
Vậy, căn cứ vào các quy định trên, thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất, quyết định 199/QĐ-CT.UBH là ủy ban nhân dân huyện An Nhơn, không phải Chủ tịch UBND huyện. Quyết định 199/QĐ-CT.UBH tuy được ban hành sai cơ bản về mặt thể thức (như phân tích tại mục 3.3 dưới đây), tuy nhiên căn cứ vào tư cách ký văn bản “TM.UBND HUYỆN AN NHƠN”  có thể thấy văn bản được chủ tịch huyện An Nhơn ký với tư cách thay mặt Ủy ban nhân dân huyện An Nhơn. Do đó, quyết định trên đã được ban hành đúng thẩm quyền.
 
3.2.           Về nội dung
            Quyết định 199/QĐ-CT.UBH về việc thu hồi 6.146 m2 đất được UBND huyện An Nhơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Nhân trọn thửa 360 và cắt thửa 260 tờ bản đồ số 14 xã Phúc Vinh, vì lý do diện tích đất này nằm trong khu vực đất quy hoạch khu công nghiệp An Nhơn III giao cho Công ty Tân Thành.
          Căn cứ để ban hành Quyết định trên là:
                      i.            Điều 41, 43 Luật tổ chức HĐND và UBND 2003: Điều luật được trích dẫn là không chính xác vì không liên quan đến nội dung của quyết định hay thẩm quyền ban hành quyết định.
                   ii.            Điều 42, điều 44 Luật Đất đai 2003: Quyết định 199 là một quyết định về việc thu hồi đất, nội dung không bao gồm các vấn đề về bồi thường, tái định cư cho người bị thu hồi đất, do đó, việc nêu căn cứ bao gồm điều 42 Luật Đất đai 2003 là không chính xác
                 iii.            Quyết định số 656/QĐ.CT.UBT ngày 07/03/2013 của Ủy bản nhân dân tỉnh Đ.N về việc phê chuẩn phương án bồi thường do thu hồi đất công trình xây dựng hạ tầng khu công nghiệp An Nhơn III tại xã Phúc Vinh, huyện An Nhơn, tỉnh Đ.N: Quyết định 656/ QĐ.CT.UBT ngày 07/03/2013 của Ủy bản nhân dân tỉnh Đ.N là quyết định về việc phê chuẩn phương án bồi thường do thu hồi đất công trình xây dựng hạ tầng khu công nghiệp An Nhơn III, không phải là Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thu hồi đất để thực hiện dự án khu công nghiệp. Dó đó, viện dẫn quyết định trên trong phần căn cứ là chưa chính xác.
3.3.           Thể thức văn bản
                        Căn cứ theo hướng dẫn tại mục II, thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/05/2005 hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn văn bản và thông tư số 01/2011/TT-BNV Hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính thì Quyết định 199/QĐ-CT.UBH sai về thể thức văn bản, cụ thể:
-        Sai về cách ghi số hiệu văn bản
-        Sai về cách trình bày tên loại văn bản và trích yếu nội dung văn bản.
-        Không thống nhất thẩm quyền của người phát hành văn bản ở phần loại văn bản và phần ký tên của văn bản, cụ thể là tại phần loại văn bản đề là “Quyết định của chủ tịch UBND”, nhưng phần ký tên thì đề là “TM. UBND”.
 
4.                 Các vấn đề cần xác minh, làm rõ
Liên quan đến khiếu kiện hành chính của ông Nguyễn Văn Công có những điểm cần chứng mình và làm sáng tỏ như sau:
                        i.              Qua kiểm tra thực tế (biên bản họp ngày 23/04/2013) cho thấy, có nhiều cột mốc không còn trên thực địa, có những cột mốc không xác định được ranh giới thực địa, một số bị xê dịch, …Do đó cần kiểm tra, xác minh lại số lượng cột mốc, vị trí chính xác của các cột mốc trên thực địa.
                      ii.              Các cột mốc cắm trên thực địa đã cắm đúng ranh giới trên bản đồ địa chính kèm theo Quyết định 997/QĐ.CT.UBT của UBND tỉnh Đ.N chưa?
                   iii.              Làm rõ đất của ông Nguyễn Văn Công có nằm trong khu vực đất quy hoạch Khu công nghiệp An Nhơn III theo Quyết định 997/QĐ.CT.UBT hay không?
                    iv.              Khi đang trong quá trình giải quyết khiếu kiện của ông Công thì ngày 18/12/2013, Chủ tịch UBND tỉnh Đ.N ban hành Quyết định số 4839/QĐ.CT.UBT, điều chỉnh giảm diện tích tại điều 1 Quyết định 997/QĐ.CT.UBT. Vậy, cần xác định sau khi điều chỉnh giảm, đất của ông Nguyễn Văn Công có nằm trong quy hoạch hay không?
 
5.                 Chứng cứ
            Liên quan đến việc cung cấp chứng cứ liên quan đến vụ án của người khởi kiện, điều 49 Luật Tố tụng hành chính 2010 quy định việc cung cấp chứng cứ có liên quan đến vụ việc để làm rõ cho yêu cầu khởi kiện của mình vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của người khởi kiệ, cụ thể như sau:
Điều 50. Quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện
1. Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 49 của Luật này.”
Điều 49. Quyền, nghĩa vụ của đương sự
1. Cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Được biết, đọc, ghi chép, sao chụp và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Toà án thu thập.
3. Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án.
4. Đề nghị Toà án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.”
 
            Trên thực tế, có những chứng cứ có liên quan mật thiết đến vụ án hành chính nhưng không phải trường hợp nào người khởi kiện cũng có thể tự mình thu thập được, do đó, để tháo gõ những trường hợp thế này, điều 78 Luật Tố tụng hành chính 2010 quy định như sau:
            “Điều 78. Xác minh, thu thập chứng cứ
2. Trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu hoặc xét thấy cần thiết, Toà án có thể tự mình hoặc ủy thác tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm rõ các tình tiết của vụ án.
……………
4. Các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ bao gồm:
a) Lấy lời khai của đương sự;
b) Lấy lời khai người làm chứng;
c) Đối chất;
d) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
đ) Trưng cầu giám định;
e) Quyết định định giá tài sản, thẩm định giá tài sản;
g) Ủy thác thu thập chứng cứ;
h) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ.”
 
            Đối với người bị kiện trong vụ án hành chính – là bên ban hành các quyết định hành chính, hoặ thực hiện các hành vi hành chính, mà tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của một đối tượng nhất định. Do đó, luật tố tụng hành chính quy định về nghĩa vụ của họ phải cung cấp cho Tòa án các văn bản, tài liệu mà căn cứ để ra quyết định. Cụ thể:
Điều 72. Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hành chính
2. Người bị kiện có nghĩa vụ cung cấp cho Toà án hồ sơ giải quyết khiếu nại (nếu có) và bản sao các văn bản, tài liệu mà căn cứ vào đó để ra quyết định hành chính, quyết  định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc có hành vi hành chính.”
 
5.1.     Đánh giá chứng cứ đang có
            Liên quan đến việc thu hồi đất của ông Nguyễn Văn Công, trong hồ sơ vụ án hiện có các văn bản, tài liệu như sau:
STT TÊN/SỐ/NGÀY VĂN BẢN CHỦ THỂ BAN HÀNH NỘI DUNG GHI CHÚ/
ĐÁNH GIÁ TÍNH PHÁP LÝ
1.                    Giấy bán đất ngày 21/06/2002   Về việc mua bán đất giữa ông Nguyễn Văn Nhân và ông Nguyễn Văn Công.  
2.                    Quyết định thu hồi đất số: 199/QĐ-CT.UBH ngày 28/08/2013 Chủ tịch UBND huyện An Nhơn Thu hồi quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Nhân tại ấp 2 xã Phúc Vinh, huyện An Nhơn, tỉnh Đ.N Căn cứ điều 44 Luật đất đai 2003, điều 31 Nghị đinh 69/2009/NĐ-CP: Sai về thể thức văn bản, nên dẫn đến việc khó xác định thẩm quyền là đúng hay sai.
3.                    Thông báo số 110/TB.UBH ngày 28/08/2013 Ủy Ban nhân dân huyện An Nhơn Di dời để giải phóng mặt bằng, giao đất tại khu công nghiệp 3-An Nhơn Không đúng trình tự ban hành và nội dung không đúng quy định của pháp luật (về thời hạn di dời).
4.                    Đơn khiếu nại ngày 29/08/2013 Ông Nguyễn Văn Công Khiếu nại Quyết định thu hồi đất số 199/QĐ-CT.UBH Còn trong thời hiệu khiếu nại 30 ngày.
Xác định sai người bị kiện
5.                    Công văn 640/UBH ngày 05/09/2013 Trả lời khiếu nại của các hộ dân Trả lời thắc mắc về viêc ban hành Quyết định thu hồi đất của các hộ dân Sai về thể thức văn bản quy định tại điều 54 Luật Khiếu nại 2011.
6.                    Báo cáo số 22/BC.ĐC-NĐ ngày 06/03/2013 Sở Tài nguyên – Môi trường Cắm lại các mốc đã bị mất, bị sai lệch tại khu công nghiệp An Nhơn III  
7.                    Biên bản họp ngày 23/04/2013 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.N Về việc kiểm tra, cắm mốc ranh giới khu công nghiệp An Nhơn III Thiếu chữ ký của đại diện UBND huyện An Nhơn
8.                    Công văn số 3607/UBT ngày 21/08/2013 Chủ tịch UBND tỉnh Đ.N Trả lời khiếu nại của các hộ dân tại ấp 5 xã Phúc Vinh, huyện An Nhơn  
9.                    Quyết định số 656/QĐ.CT.UBT ngày 07/03/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Phê chuẩn phương án bồi thường (đợt 10) do thu hồi đất xây dựng công trình hạ tầng KCN An Nhơn 3. Ký không đúng thẩm quyền.Thẩm quyền phê chuẩn phương án bồi thường là UBND tỉnh không phải Chủ tịch UBND tỉnh.
10.             4 Quyết định số 4839/QĐ.CT.UBT ngày 18/12/2013 Chủ tịch UBND tỉnh Đ.N Về việc điều chỉnh (giảm) diện tích cho thuê đất tại khu công nghiệp An Nhơn III -Đúng thẩm quyền ban hành theo điều 37 Luật đất đai 2003.
-Phần nội dung về “thời hạn sử dụng đất” cần được làm rõ.
11.               Các biên bản lấy lời khai không số Tòa án nhân dân huyện An Nhơn Lấy lời khai của Người khởi kiện và của người có quyền và nghĩa vụ liên quan  
12.               Biên bản xác minh  ngày 04/03/2014 Tòa án nhân dân huyện An Nhơn Xác minh tại Phòng Tài nguyên và Môi trường liên quan đến quyết định thu hồi đất  
13.               Công văn số 304/UBH UBND huyện An Nhơn Nêu ý kiến về vụ kiện hành chính và không tham gia phiên tòa.  
 
            Nhận xét: Vấn đề còn khúc mắc trong vụ án hiện nay là ranh giới chính xác của khu công nghiệp nghiệp trên thực địa. Để xác định chính xác được ranh giới khu công nghiệp, cần phải có các tài liệu về diện tích đất được quy hoạch để xây dựng khu công nghiệp An Nhơn III, vị trí, ranh giới khu đất trên bản đồ và trên thực địa. Tuy nhiên, với những tài liệu hiện có ở trên, chưa đủ cơ sở để xác định được đất của ông Nguyễn Văn Công có nằm trong khu vực quy hoạch không. Do đó để có thể làm rõ được những điểm chưa rõ hiện nay, đi đến giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Công cần thu thập thêm chứng cứ.
 
5.2.     Các chứng cứ cần thu thập thêm
            Để làm rõ vấn đề cốt yếu là liệu phần đất của ông Nguyễn Văn Công có nằm trong khu vực đất quy hoạch không, toàn bộ hồ sơ vụ án hiện có còn nhiều điểm chưa rõ, tài liệu chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ. Do đó, để làm sáng tỏ những điểm chưa rõ ràng trong vụ án, cần thu thập thêm những chứng cứ như sau:
-         Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện An Nhơn cung cấp toàn bộ hồ sơ địa chính liên quan đến dự án khu công nghiệp An Nhơn III đã được phê duyệt. Bộ hồ sơ trên sẽ giúp xác định rõ ranh giới khu công nghiệp đến những vị trí đất nào trên thực địa.
-         Sơ đồ tổng thể vị trí khu công nghiệp có diện tích là 3.677.848 m2 (khi chưa điều chỉnh);
-         Yêu cầu nhân chứng cung cấp lời khai, cụ thể là lời khai của những cán bộ đã trực tiếp đi cắm mốc, đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.N, đại diện Trung tâm đo vẽ tỉnh Đ.N.
-         Yêu cầu ông Nguyễn Văn Công cung cấp ba văn bản đã đề cập trong đơn khởi kiện, văn bản mà cho thấy đất ông Công cách cột mốc khu công nghiệp khoảng 150m, bao gồm: 1. Văn bản số 10TT/UBN ngày 18/02/2007; 2. Tờ trình số 133/TT/UBNDX ngày 05/07/2012 và 3. Tờ trình số 6/TT-UBX ngày 09/09/2013.
-         Yêu cầu UBND huyện cung cấp Quyết định 997/QĐ-CT.UBH của UBND tỉnh, tờ trình 123/TTPĐC của phòng Tài nguyên và Môi trường, Quyết định 1230/QĐUT và Quyết định 4845/QĐUBT của UBND tỉnh về việc phê chuẩn phương án bồi thường do thu hồi đất công trình xây dựng hạ tầng khu công nghiệp An Nhơn III; Thông báo 62/TB-UBH của Chủ tịch UBND huyện về kết quả kiểm tra cắm mốc ranh giới khu công nghiệp An Nhơn III;
-         Yêu cầu UBND huyện An Nhơn cũng cấp Trích đo bản đố địa chính khu đất ban hành kèm theo Quyết định 997/QĐ.CT.UBT.
            Trong trường hợp này, ông Công có thể đi đến các cơ quan có thẩm quyền  (như nêu trên) tự mình thu thập các tài liệu nêu trên để làm bằng chứng và cơ sở thuyết phục Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông. Trong trường hợp đã tự mình thu thập mà không được, ông Công cần làm đơn đề nghị Tòa án thu thập những chứng cứ trên.
 
III.           VĂN BẢN PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN
            Tham gia điều chỉnh các vấn đề liên quan đến khiếu kiện hành chính của ông Nguyễn Văn Công có các văn bản pháp luật như sau:
1.          Luật Tố tụng hành chính 2 số 64/2010/QH12;
2.          Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13.
3.          Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP;
4.          Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003;
5.          Luật đất đai 2003;
6.          Nghị định 84/2007/NĐ-CP quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
7.          Nghị định 66/2009/ NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
8.          Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP và Nghị định số 88/2009/NĐ-CP;
9.          Thông tư 14/2009/TT-BTNMT quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;
10.      Thông tư 19/2008/TT-BXD hướng dẫn việc lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế;
11.      Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
12.      Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP Hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản;
13.      Thông tư số 01/2011/TT-BNVHướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính;
14.      Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân số 11/2003/QH11.
 
IV.            KINH NGHIỆM RÚT RA
            Liên quan đến vấn đề thu hồi đất, trước khi ban hành một Quyết định thu hồi riêng biệt cho từng đối tượng vụ thể, đã có rất nhiều các văn bản khác được ban hành, ví dụ Quyết định thu hồi của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bản đồ quy hoạch, Bản vẽ chi tiết, …đây là những tài liệu có mối quan hệ chặt chẽ, là cơ sở để ban hành Quyết định thu hồi đất. Tuy nhiên, không phải Quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp dưới (cấp huyện) lúc nào cũng đồng nhất, phù hợp với tinh thần, nội dung mang tính chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (gọi là sự không thống nhất trong quá trình thực hiện), hay không phải lúc nào việc triển khai thực hiện trên thực tế đúng với các quyết định được ban hành. Do đó, khi xem xét hồ sơ hành chính phải xem xét toàn bộ các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụ án, từ các quyết định của các cấp, cơ quan có thẩm quyền đến các văn bản làm việc trên thực tế như Biên bản xác minh cắm cột mốc,…. Bên cạnh đó, liên quan đến các vấn đề về đất đai, thời điểm sử dụng đất và căn cứ, cơ sở để sử dụng đất trên thực tế (Hợp đồng mua bán, các thủ tục pháp lý liên quan đến mua bán đất, việc đóng thuế,…) cũng rất quan trọng để xác định quyền khởi kiện một vụ án hành chính.
 
 

Tác giả bài viết: Đỗ Trọng Hiền (Chinluamientay) Tổng hợp

Nguồn tin: Nghiepvuketoan.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Nội dung chính

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 18


Hôm nayHôm nay : 1054

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 55907

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6421455

Giới thiệu

Giới thiệu về nghiepvuketoan.vn

Nghiepvuketoan.vn là trang web chuyên ngành tài chính kế toán, thuế và luật. Website bao gồm trang tin với những tin bài cập nhật thường xuyên phục vụ nhu cầu tham khảo chuyên ngành; Phần Diễn đàn thường xuyên giao lưu trao đổi nghiệp vụ. Ngoài ra trang web còn có những tiện ích phục vụ thành viên...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến www.nghiepvuketoan.vn từ đâu?

Báo chí

Bạn bè giới thiệu

Công cụ tìm kiếm

Khác

Tra cứu hóa đơn
Diễn đàn Nghiệp vụ kế toán
Đỗ Gia CTB Chuyên nghiệp-Tận tâm-Bảo mật
Phần mềm kê khai thuế
Quảng bá thương hiệu qua Internet
Trang web đăng ký mã số thuế TNCN
Tra cứu thông tin Người Nộp Thuế
Công ty Cổ phần Thương Mại Dịch Vụ Kỹ Thuật Thái Bình Dương
Trang web Tổng Cục Thuế

Đăng nhập thành viên